27/05/2026

Lấy Đông Nam Á làm chủ lưu: Giới thiệu sách “Lịch sử Đông Nam Á: Những giao lộ then chốt” của cố giáo sư Anthony Reid

Bài giới thiệu được viết bởi GS. TS. Momoki Shiro. Ông là Giáo sư danh dự Trường Đại học Osaka, Nhật Bản. Hiện ông đang giảng dạy ở Trường Đại học Việt Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội với tư cách là chuyên gia JICA.

Anthony Reid là Giáo sư danh dự của Đại học Quốc gia Australia. Ông qua đời vào ngày 8 tháng 6 năm 2025 tại Canberra ở tuổi 85. Bắt đầu sự nghiệp học thuật của mình với nghiên cứu về lịch sử Indonesia hiện đại, Reid đã mở rộng phạm vi nghiên cứu của mình để xuất bản cuốn sách lịch sử tổng thể theo phong cách Braudel (Pháp) nổi tiếng mang tên Đông Nam Á trong Thời đại Thương mại 1450-1680 (Nhà xuất bản Đại học Yale, 1988, 1993). Cuốn sách thu hút mối quan tâm của giới học thuật trên toàn thế giới về thời sơ kỳ cận đại ở Đông Nam Á cũng như ở các khu vực hàng hải khác. Ngược lại, các nghiên cứu và tranh luận sau đó của ông (với Victor Lieberman chẳng hạn) đã đóng góp rất nhiều đối với việc đưa lịch sử Đông Nam Á và nghiên cứu khu vực tới giới học thuật toàn cầu.

Bài giới thiệu sách này[1] chủ yếu đề cập đến mối quan ngại của người đánh giá về cách Đông Nam Á được đưa vào vị trí dòng chính học thuật ở Nhật Bản, Đông Nam Á và trên thế giới thông qua các cuộc đối thoại hiệu quả giữa giới học thuật nghiên cứu khu vực Đông Nam Á và giới học thuật/giáo dục lịch sử trên toàn thế giới. Mối quan tâm chính của tôi là làm thế nào để đưa lịch sử Đông Nam Á trở thành xu hướng chủ đạo trong lịch sử thế giới/toàn cầu, vốn thường chỉ bao gồm lịch sử và sự tương tác của các khu vực/cường quốc “chủ yếu” nằm bên ngoài khu vực Đông Nam Á.

Trước khi bắt đầu phần thảo luận chính dưới dạng một bài đánh giá sách, tôi xin tự giới thiệu ngắn gọn về bản thân cũng như tầm quan trọng của giới học thuật sử học nghiên cứu về Đông Nam Á đối với độc giả quốc tế. Người đánh giá sinh năm 1955 tại Nhật Bản và học tại Đại học Kyoto từ bậc cử nhân đến tiến sĩ, nơi tôi nghiên cứu lịch sử châu Á (nổi tiếng như trọng tâm nghiên cứu Trung Quốc học) và lịch sử khu vực Đông Nam Á. Từ đó, tôi chủ yếu nghiên cứu về Việt Nam trước thời Pháp thuộc, tập trung vào vị trí của nước này ở Đông Á và Đông Nam Á, cũng như ở khu vực biển châu Á[2]. Trong thời gian đó, tôi cũng tham gia vào một số dự án nhằm cải cách/tái tổ chức giáo dục lịch sử ở cả cấp trung học lẫn đại học, cũng như trong lĩnh vực giáo dục khai phóng (bao gồm cả chương trình giảng dạy sau đại học)[3].

Theo quan điểm của tôi, điều đầu tiên cần thảo luận ở đây là lịch sử nghiên cứu về lịch sử Đông Nam Á. Chúng ta đều biết rằng, Đông Nam Á từng bị xem như một vùng ngoại vi của ngành nghiên cứu Đông phương học/Châu Á học trong suốt thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Trong khi ngành nghiên cứu phát triển ở những khu vực mà các nền văn minh “cổ đại” của chúng hưng thịnh nhưng chưa bao giờ tiến triển đến những giai đoạn cao hơn, Đông Nam Á lại thường bị coi là đối tượng của ngành dân tộc học tương tự như trường hợp châu Phi và châu Đại Dương. Trong khi lịch sử “cổ đại” Đông Nam Á (trì trệ, chuyên chế) thường được giải thích bằng những ảnh hưởng của “Ấn Độ hóa” thì lịch sử “cận đại” của nó lại được nghiên cứu như là hệ quả từ quá trình bành trướng của chủ nghĩa thực dân châu Âu. Các xã hội đương đại thì lại được coi là đối tượng của các nghiên cứu hậu thuộc địa. Chưa ở đâu và chưa khi nào Đông Nam Á được đóng vai trò chủ đạo nhìn từ chính lịch sử của mình.

Trong suốt thời kỳ diễn ra phong trào giải phóng dân tộc và Chiến tranh Lạnh, ở Đông Nam Á đã nảy sinh các cuộc đấu tranh nhằm đòi hỏi một nền học thuật độc lập trong lĩnh vực lịch sử học và khu vực học, những lĩnh vực vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc của yếu tố dân tộc chủ nghĩa. Giữa làn sóng đó, vào nửa sau thế kỷ XX, nhiều nhà sử học đã đảm nhận những nhiệm vụ khó khăn, trong đó họ phải nỗ lực vượt qua tư duy và phương pháp sử học cũ không chỉ của George Cœdès (đầu thế kỷ XX) mà của cả D.G.E. Hall (nửa sau thế kỷ XX). Nhờ những nỗ lực chung, lịch sử Đông Nam Á đã giành được vị thế chính thức trong giới học thuật lịch sử thế giới vào những thập niên cuối của thế kỷ XX, được minh chứng bằng các ấn phẩm như Lịch sử Đông Nam Á của Cambridge (1990-1991) xuất bản tại Anh và Chuỗi bài giảng Iwanami về Lịch sử Đông Nam Á (2001-2003) xuất bản tại Nhật Bản. Và chúng ta không thể không nhấn mạnh đóng góp của Anthony Reid với một loạt các ấn phẩm có tầm ảnh hưởng (chẳng hạn như cuốn Đông Nam Á trong Thời đại thương mại, 1450 – 1680) trong quá trình này.

Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với một kết thúc hoàn toàn có hậu. Thời đại toàn cầu hóa đã chứng kiến ​​thực tế thu hẹp đáng kể của các nghiên cứu khu vực học và cả nhân văn nữa. Vì thế O. Wolters vào năm 1999 từng đề cập đến mức độ cần thiết phải đảm bảo sự tồn tại về mặt học thuật của công tác nghiên cứu Đông Nam Á, bằng cách đưa nội dung đó vào một học phần nhất định trong các chương trình giáo dục đại cương/khai phóng. Ông nêu lên ý tưởng này như là một phần trong ấn phẩm cuối cùng của mình. Liên quan tới vấn đề này, cuốn sách Lịch sử Đông Nam Á: Những giao lộ then chốt của Reid thể hiện một số đặc điểm nổi trội. Đáng lưu ý, trong đó tác động của nó đến độc giả Nhật Bản (và Việt Nam) dường như rất đáng kể.

Đầu tiên, cuốn sách được sử dụng như một giáo trình đại học dành cho những sinh viên không quen với việc đọc sách lịch sử về các khu vực ngoài châu Âu. Về vấn đề này, việc cuốn sách do một tác giả duy nhất viết nên, người luôn mong muốn viết ra một cuốn lịch sử toàn diện, đóng một vai trò tương đối quan trọng (theo ý niệm của biên tập viên loạt sách). Tác giả thể hiện kỹ năng viết của mình ở khắp mọi ngóc ngách trong cuốn sách, đặc biệt là trong việc thiết lập các khung thời gian khác nhau tùy ý cho các vấn đề đa dạng (thương mại và sản xuất, tôn giáo, văn hóa, nhà nước, cạnh tranh quyền lực…). Hơn nữa, cuốn sách còn tích hợp những thành tựu nghiên cứu và lý thuyết mới nổi lên trong quãng đầu thế kỷ XXI (như Sanskrit cosmopolis, Strange parallels, Zomia, v.v…). Kết quả là, cuốn sách này thể hiện phạm vi bao quát và tính toàn diện vượt trội. Cùng với danh mục tài liệu chi tiết có thể sử dụng trong học tập, nghiên cứu, nó thực sự là một cẩm nang tuyệt vời dành cho việc giảng dạy tại các trường đại học cũng như trường trung học có giáo trình mới tại Nhật Bản.

Dĩ nhiên, cần phải cập nhật từ một số khía cạnh liên quan đến quan điểm và lý thuyết. Có vẻ như vẫn còn cơ hội để đối thoại với giới học thuật Nhật Bản (hiện nay trình bày nhiều nội dung bằng cả tiếng Anh và các ngôn ngữ bản địa Đông Nam Á, bao gồm lý thuyết Cách mạng siêng năng/Industrious Revolution của Sugihara Kaoru (2015) và lý thuyết gia đình – giới tính – dân số của Ochiai Emiko (2014)) và các quốc gia, khu vực khác nhằm đạt được mục tiêu này[4].

Sau đây, chúng ta sẽ chuyển sang thảo luận về việc lịch sử Đông Nam Á đang dần trở thành dòng chính trong nghiên cứu lịch sử hiện nay nhờ vào “kiệt tác” của cố giáo sư Anthony Reid như thế nào. Một công trình tương tự cuốn sách giáo khoa với nội dung đa dạng, phong phú, được thiết kế hướng tới nhiều đối tượng độc giả thường sẽ đòi hỏi sự hướng dẫn chính xác và các cuộc thảo luận, suy ngẫm đa chiều ở chính nơi độc giả.

Trước hết, chúng ta vẫn cần thảo luận xem trong một cuốn sách như vậy thì nên nói gì và nói với ai? Trong lời tựa, tác giả đề xuất vai trò của việc chỉ ra cách làm cho những sách giáo khoa lịch sử của người dân Đông Nam Á trở nên dễ tiếp cận hơn và “mềm” hơn về nội dung bởi lẽ nhiều cuốn sách trong số đó vẫn còn bị những mối bận tâm mang tính dân tộc chủ nghĩa cứng nhắc chi phối. Tính chất khai sáng của cuốn sách này dĩ nhiên là xuất sắc. Bản thân cuốn sách cũng cho phép độc giả thảo luận (từ quan điểm của public historydoing history chẳng hạn) về cách người dân địa phương có thể viết ra lịch sử của chính họ cũng như làm thế nào họ có thể được định vị và cộng hưởng với những lịch sử toàn cầu mang tính cấu trúc nhưng đa chiều.

Mặt khác, vẫn cần phải giúp độc giả bên ngoài khu vực Đông Nam Á nhận thấy tầm quan trọng của khu vực này, như cách Reid đã làm. Chẳng hạn như sự đa dạng đáng kinh ngạc về dân cư và xã hội cùng sự khôn ngoan trong việc cân bằng hai yếu tố này, các biến động địa chất, khí hậu ảnh hưởng đến toàn cầu, địa vị cao của người phụ nữ, vai trò không thực sự đáng kể của nhà nước… Chúng ta có thể tổ chức một số cuộc tranh luận trong các lớp học ở khu vực Đông Á về việc liệu những điều kể trên có đủ sức để thuyết phục hay thu hút không ít học sinh vốn chỉ quen thuộc, yêu thích những gì lớn mạnh, giàu có và tiên tiến. Và ý tưởng này cũng nhằm thay đổi tư duy của đa số những người cho rằng Đông Nam Á “cũng” quan trọng nhưng lại luôn ưu tiên các khu vực “chính” khác. Sẽ là một thành công lớn nếu như đa số độc giả Đông Á coi Đông Nam Á là vấn đề của chính họ, vượt ra ngoài những vấn đề thực tiễn đơn thuần như phát triển và an ninh.

Để đưa lịch sử Đông Nam Á trở thành dòng chính của lịch sử thế giới, cách kể về những chủ đề quan trọng cũng rất đáng chú ý. Chúng ta không cần quá lo lắng về việc mô tả chính xác các chi tiết, điều mà các chuyên gia của từng quốc gia/lĩnh vực/thời đại thường phàn nàn. Tuy nhiên, những độc giả quan tâm có thể nghiên cứu một chủ đề tổng quát, chẳng hạn như khối tư liệu từ các khu vực chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa đã ghi chép về Đông Nam Á như thế nào và bằng cách nào (gần đây nhận thức nhằm trả lời hai câu hỏi trên đã có sự đổi mới rõ nét theo hướng khắc phục quan điểm Hoa – Di truyền thống[5]).

Tiếp theo, làm thế nào để giúp độc giả trẻ ở phương Tây và châu Á, bao gồm cả các sinh viên trẻ tuổi, sống ở thành phố tại các quốc gia Đông Nam Á đang tăng trưởng nhanh chóng có thể nắm bắt chính xác tầm quan trọng của nền nông nghiệp truyền thống Đông Nam Á, đặc biệt là canh tác lúa nước (chủ đề từng được các học giả Kyoto nghiên cứu sâu sắc nhưng ngày nay thường bị lãng quên) cũng là một nhiệm vụ phức tạp. Bởi vì bản thân canh tác lúa nước thường bị hiểu nhầm là lĩnh vực đòi hỏi lao động thâm canh cũng như sự kiểm soát chính trị, trong khi năng suất lại khá cao. Thêm vào đó, Anthony Reid không quên đề cập rằng lý thuyết “nhà nước trị thủy-thủy lợi (Hydraulic state)” không thể áp dụng cho Đông Nam Á cổ trung đại. Thay vào đó, ông giới thiệu tính chất quảng canh của canh tác lúa nước trong giai đoạn cổ trung đại ở khu vực này, bao gồm cả ở Angkor (so sánh với canh tác và thủy lợi thâm canh kiểu Thái). Tuy nhiên, người đọc cũng có thể nhớ lại hình ảnh thông thường về hoạt động thâm canh cây lúa cũng như thực tiễn năng suất cao khi tác giả đề cập đến sự phát triển của mạng lưới canh tác lúa nước ở miền Trung và miền Nam Trung Hoa. Rõ ràng đặc trưng này có ảnh hưởng qua lại với nền nông nghiệp lúa nước ở Đông Nam Á (trong đó nổi bật lên là vùng châu thổ sông Hồng) từ khoảng thế kỷ IX-X đến thế kỷ XIII với các thuật ngữ như “hai vụ” và sự du nhập của giống lúa từ Champa (lúa chiêm), một hiểu biết đã từng bị bác bỏ hoàn toàn tại Kyoto[6].

Cuối cùng, như lịch sử đã chỉ ra, cần phải có những nỗ lực tập thể để một lĩnh vực học thuật mới đang phát triển có thể giành được vị trí dòng chính, vững chắc trong xã hội. Những nhiệm vụ cần thiết để hiện thực hóa mục tiêu đó bao gồm việc liệt kê các câu hỏi nghiên cứu và tổ chức các cuộc tranh luận cấp độ quốc tế, xuất bản nhiều bài đánh giá sách, bình luận, từ điển và tài liệu tham khảo, biên soạn các học liệu và hình ảnh. Mặc dù sức mạnh của văn hóa đại chúng như truyện tranh, phim hoạt hình, phim truyền hình và trò chơi điện tử có thể phổ biến trên toàn cầu ngày nay, nhưng việc đặt ra những câu hỏi có chất lượng cho kỳ thi tuyển sinh cũng rất cần thiết, đặc biệt ở các nước Đông Á, nơi các kỳ thi cạnh tranh khốc liệt vẫn tác động đến tri ​​thức tập thể của xã hội[7]. Trong số tất cả các nhiệm vụ đó, việc kết nối và/hoặc so sánh Đông Nam Á với các khu vực khác sẽ là cần thiết và mang lại nhiều lợi ích thiết thực.

Việc khiến các học giả nghiên cứu chuyên sâu về các khu vực khác trên thế giới dành sự chú tâm đến Đông Nam Á đã đạt được thành tựu ở mức độ đáng kể (đóng góp của Anthony Reid vào thực hiện mục tiêu này thực sự rất lớn). Phải chăng lúc này đây là thời điểm thích hợp để các nhà nghiên cứu tại Đông Nam Á bàn luận về các khu vực khác và về nhiều vấn đề toàn cầu nói chung, như Lieberman đã làm theo cách riêng của ông để so sánh các quốc gia Âu-Á? Từ góc độ khác, liệu có khó khăn không khi so sánh Thế giới phi quốc gia (giống như khái niệm Zomia của James Scott) ở các vùng núi và biển miền Đông Nam châu Á với Thế giới phía Bắc (Hokkaido và các khu vực lân cận) của quần đảo Nhật Bản và/hoặc khu vực trải dài từ Đông Bắc Trung Quốc/Đông Siberia[8]?

Tóm lại, cuốn sách được tôi (Momoki Shiro) đánh giá ở đây đã để lại một di sản to lớn trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử và giáo dục lịch sử cũng như nghiên cứu về khu vực Đông Nam Á nói chung. Và điều này sẽ tiếp tục khơi gợi, truyền cảm hứng cho các học giả, giảng viên, sinh viên, độc giả của các thế hệ sau từ nhiều góc độ khác nhau.

Chú thích

[1] Tôi đã công bố một bài bình luận cho bản dịch tiếng Nhật của cuốn sách này (Ota và Osada chỉ đạo dịch thuật năm 2021) trên tạp chí Shakai Keizai Shigaku (Lịch sử Kinh tế Xã hội), tập 88 (4), 2023. Trong bài viết tôi đã bình luận về cả bản gốc lẫn vấn đề dịch thuật. Các dịch giả đang chuẩn bị xuất bản tập bài bình luận bằng tiếng Anh, trong đó có bài của tôi. 

[2] Tôi rất vinh dự khi có dịp hợp tác với Giáo sư Reid và các đồng nghiệp của ông, những người đã tập trung tại Singapore để nghiên cứu về tương tác hàng hải châu Á, thông qua đó một số ấn phẩm đã ra đời, bao gồm cả công trình của Fujita, Momoki và Reid (2013).

[3] Nhiều dự án trong số đó có phạm vi trong nước. Tuy nhiên, một số đặc điểm đã được giới thiệu và thảo luận ở nước ngoài, chủ yếu trong các tổ chức nghiên cứu lịch sử toàn cầu như AAWH (Hiệp hội các nhà sử học thế giới châu Á) và trên tạp chí điện tử ARWH (Tạp chí Lịch sử Thế giới châu Á) của tổ chức này.

[4] Dựa trên góc nhìn từ lịch sử biển của châu Á, nghiên cứu do Oka và Haneda chủ biên (2019) đã cung cấp một cái nhìn tổng quan rất giá trị về giới học thuật Nhật Bản. Nghiên cứu gần đây về Đế chế Mông Cổ và nguy cơ thế kỷ XIV do Isahaya Yoichi tiến hành cũng sẽ công bố bằng tiếng Anh.

[5] Xét về quan điểm này, điều đáng tiếc là văn bản chứng nhận triều cống (kango) do triều đình nhà Minh cấp cho các nước chư hầu như Nhật Bản vẫn bị coi là chiếc đếm như đã từng bị hiểu lầm trong giới học thuật trong nước Nhật Bản (xem các công trình nghiên cứu gần đây của Hashimoto Yu https://www.let.hokudai.ac.jp/staff/hashimoto-yu).

[6] Người ta từng cho rằng “canh tác hai vụ” được ghi chép trong các nguồn tài liệu cổ của Trung Hoa (nên được dịch chính xác là “lúa chín hai lần một năm”) chỉ phản ánh ý nghĩa là nông dân trồng các giống lúa khác nhau vào những mùa vụ thích hợp (về điều kiện nước và địa hình) trên các thửa đất liền kề, thường để giảm thiểu rủi ro đến từ mất mùa (quan điểm này cũng rất quan trọng trong các xã hội canh tác nương rẫy). Việc du nhập giống lúa Champa vào miền Đông Nam Trung Quốc (và tới Nhật Bản vào thời Trung cổ) đã góp phần mở rộng đáng kể việc canh tác lúa quảng canh có năng suất thấp. Xem thêm thảo luận của Hội thảo “Trồng lúa ở đồng bằng sông Dương Tử” do Trung tâm Nghiên cứu Tonan Ajia tổ chức năm 1979 với sự tham gia của các học giả như Takaya Yoshikazu, Watabe Tadayo và Sakurai Yumio. Dù chỉ được xuất bản bằng tiếng Nhật, song đã làm rõ rằng vùng đồng bằng hạ lưu sông Dương Tử đã được cải tạo hoàn toàn vào thời nhà Nguyên, trong khi vựa lúa trước đó dựa trên canh tác thâm canh lại nằm ở các thung lũng giữa sông và ruộng bậc thang. Những phát hiện này đã trở thành một trong những động lực chính thúc đẩy các học giả Nhật Bản nghiên cứu lịch sử Trung Hoa từ bỏ quan niệm quá trừu tượng về sở hữu đất đai và cơ cấu giai cấp, thay vào đó, tiến hành nghiên cứu thực địa về các yếu tố sản xuất và quản lý, cộng đồng người… từ những năm 1980.

[7] Tại Nhật Bản, Hiệp hội Hợp tác Giáo dục Lịch sử bậc Trung học và Đại học (Kodaiken) và Hội Nhật Bản Nghiên cứu Đông Nam Á đã nỗ lực trong gần 20 năm nhằm đổi mới phương pháp dạy và học lịch sử Đông Nam Á.

[8] Nếu lý thuyết quốc gia kiểu Đông Nam Á (của Geerts, Wolters v.v.) từng gây ảnh hưởng sâu rộng trong giới nghiên cứu chính thể/nhà nước của các khu vực thì giai đoạn gần đây, các nhà sử học Nhật Bản chuyên nghiên cứu về châu Âu và Nhật Bản như Ozawa Minoru và cộng sự (2025) lại tìm cách áp dụng thử lý thuyết Zomia (liên quan tới thế giới miền núi) vào thế giới biển thời Trung đại.

Tài liệu tham khảo

Fujita, Kayoko, Momoki Shiro, Anthony Reid (2013). Offshore Asia, Maritime Interactions in Eastern Asia before Steamships, Singapore: Institute of Southeast Asian Studies.

Lieberman, Victor (2003, 2009). Strange Parallels (2 vols.), Cambridge University Press.

Ochiai, Emiko (2014). Leaving the West, rejoining the East? Gender and family in Japan’s semi-compressed modernity, International Sociology 29(3), 209-228.

Oka, Mihoko and Masashi Haneda (eds.) (2019). A Maritime History of East Asia, Kyoto University Press & Trans Pacific Press

Ota Atsuhi and Osada Noriyuki (supervising translation) (2021). Đông Nam Á trong Lịch sử Thế giới (bản dịch tiếng Nhật của Southeast Asia: Critical Crossroads), 2 vols, Nagoya University Press.

Ozawa Minoru, Ian Forrest and Amanda Power (2025). Medieval Zomias: Alternative Global Histories: Introduction, in The Wako as an Agent of Change in a Late Medieval and Early Modern East Asian Maritime Zomia, ed. Ozawa and Takashi Kawato, Punctum Books.

Sugihara Kaoru (2015) “Industrious Revolutions in Early Modern World History” (with Roy Bin Wong), in Jerry H. Bentley and Sanjay Subrahmanyam eds., Cambridge World History Vol. VI: The Construction of A Global World, 1400-1800 CE: Part 2 Patterns of Change, Cambridge: Cambridge University Press, pp.283-310.

Wolters, Oliver (1999). History, Culture and Region in Southeast Asian Perspectives (2nd ed.), Singapore University Press.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Are you human? Please solve:Captcha