Book Hunter Lyceum
Tin tứcTường thuật Nam Phong #11: Thời kỳ Tự chủ đầu tiên ở Việt Nam

Tường thuật Nam Phong #11: Thời kỳ Tự chủ đầu tiên ở Việt Nam

Thứ Bảy, 12/11 vừa qua, Book Hunter tổ chức sự kiện Nam Phong #11: Thời Kỳ Tự Chủ Đầu Tiên ở Việt Nam, cùng đọc sử và chia sẻ các tư liệu về giai đoạn từ nhà học Khúc xác lập chủ quyền cho đến Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán. Đây là giai đoạn ngắn ngủi nhưng mang tính bước chuyển, có rất ít tài liệu liên quan. Dù nhiều sách viết về giai đoạn này nhưng đều giống nhau.

Như các buổi Nam Phong trước đó, sự kiện được dẫn dắt bởi nhà văn Hà Thủy Nguyên.

Họ Khúc & Sự thiếu thốn tư liệu:

Đầu sự kiện, nhà văn Hà Thủy Nguyên chia sẻ những khó khăn khi tìm tư liệu. Một trong các khách tham dự, chị Khúc Thị Hoa Phượng, giám đốc Nhà xuất bản Phụ Nữ Việt Nam, đồng thời cũng là hậu duệ của họ Khúc, cũng bày tỏ những khó khăn trong quá trình dòng họ tập hợp tư liệu.

Dưới đây là những tư liệu tìm được về học Khúc:

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết rất ngắn gọn về họ Khúc:

“Nhà Lương cho Quảng Châu tiết độ sứ là Lưu Ẩn kiêm chức Tĩnh Hải Quân tiết độ sứ, phong Nam Bình Vương. Khi ấy Ẩn giữ Phiên Ngung, người Giao Châu là Khúc Hạo chiếm giữ nơi Châu trị, xưng là tiết độ sứ, có chí mưu việc. Năm ấy nhà Đường mất.

Tân Mùi (911) (Lương, Càn Hóa năm thứ 1), Nam Bình Vương nhà Lương là Lưu Ẩn chết, em là Nham lên nối ngôi. Đinh Sửu (917) (Lương, Mạt Đế Hữu Trinh, đổi tên là Chẩn, Trinh Minh năm thứ 3). Tri Quảng Châu lưu hậu nhà Lương là Lưu Nham đặt quốc hiệu là Nam Hán, đặt niên hiệu Càn Hanh năm thứ 1. Khúc Hạo sai con là Thừa Mĩ làm hoan hảo sứ, sang Quảng Châu để xem tình hình Nam Hán hư thực thế nào. Hạo chết, Thừa Mỹ nối ngôi.

Năm Kỷ Mão (918), Khúc Thừa Mĩ sứ sang nhà Lương xin cho tiết việt (cờ tiết và phủ việt). Nhà Lương trao cho. Vua Hán giận lắm. Năm Qúy Mùi (923), nhà Lương mất. Mùa thu, tháng 7, vua Hán sai tướng Lý Khắc chính đem quân đánh Giao Châu, bắt được tiết độ sứ là Thừa Mĩ đem về, cho tướng là Lý Tiến thay Khắc chính đóng giữ châu, bị tướng của Khúc Hạo là Dương Đình Nghệ người Ái Châu đánh đuổi. Vua Hán trao cho Đình Nghệ tước vị, cho Lý Tiến làm thứ sử Giao Châu cùng với Lý Khắc Chính giữ thành. Vua Hán bảo người tả hữu rằng: “Dân Giao Chỉ hay làm loạn, chỉ nên ràng buộc mà thôi.”

Như vậy, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư không nhắc đến nguồn gốc của họ Khúc và cũng không nhắc đến Khúc Thừa Dụ hay xuất thân của Khúc Hạo.

Sử Ta so với Sử Tàu của Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố

“Nước Nam ta thuộc với Tàu lần thứ năm, về cuối đời Đường đã nảy cái mầm tự trị, tức là chuyện ba đời họ Khúc, tuy chưa xưng đế xưng vương nhưng cũng đã biết chia trong nước làm từng lộ từng phủ, đặt chức lệnh trưởng, và làm sổ hộ tịch, biên tên làng quán, quy mô thật đáng làm gương cho đời sau. Từ bấy giờ giở đi, cho đến đời Đinh nhất thống nước Đại Cồ Việt, hơn sáu mươi năm ấy, dân Nam đã thoát khỏi vòng lao lung của người Tàu.”

Ông tổng hợp cuốn “Khâm định Việt sử”, cho biết rằng Họ Khúc quê ở Hồng Châu, phủ Bình Giang và Ninh Giang, Hải Dương. Đây là họ lớn nhiều đời tại vùng này. Sách mô tả Khúc Thừa Dụ là “người khoan hòa yêu nước, được chúng suy tôn. Nhân lúc loạn, Thừa Dụ là thổ hào tự xưng tiết độ sứ, rồi sai người xin mệnh lệnh với nhà Đường. Năm thứ ba hiệu Thiên Hựu (906), vua Đường nhân thăng Tĩnh Hải tiết độ sứ là Khúc Thừa Dụ chức đồng bình chương sự. Khúc Hạo là con trai của Khúc Thừa Dụ, nối ngôi giữ La thành, phân chia xứ, lộ, phủ, châu và xã, đặt chánh lệnh trưởng và tá lệnh trưởng, chia đều thuế ruộng, giảm nhẹ việc quan, lập hộ tịch biên họ tên, làng quán, có giáp trưởng trông nom.

Việt Kiệu Thư và Tư trị thông giám cũng khẳng định rằng Khúc Thừa Dụ thừa cơ loạn lạc đã chiếm giữ An Nam.

“Việt Nam thời dựng nước” (Keith Taylor) lý giải sự mâu thuẫn của Khúc Thừa Mỹ & Lưu Cung (vua Nam Hán)

Từ cuốn “Annan” của Yamamoto: Thừa Mỹ thiết lập bang giao với nhà Lương qua doanh nhân Vương Thẩm Tri nhưng nhà Lương yếu kém và nhanh chóng sụp đổ. Nam Hán tấn công Đại La, bắt được Khúc Thừa Mỹ. Khác với phong cách của Lưu Cung (vua Nam Hán) vốn coi mạnh được yếu thua, Thừa Mỹ đeo đuổi lý tưởng về trật tự và trách nhiệm của thiên tử, nên họ Khúc không đạt được thỏa thuận quyền lực với Nam Hán.

Tư liệu của dòng họ Khúc: “Lịch sử của dòng họ Khúc trong lịch sử dân tộc” (Khúc Minh Tuấn chủ biên)

Gia phả của các nhánh họ Khúc không ghi chép rõ thủy tổ, ngay cả gia phả của tướng quân Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền cũng không ghi chép về sự kế tục của họ Khúc, do đó rất khó để xác định mối liên hệ xuất xứ của họ Khúc.

Sách “Tư liệu lịch sử họ Khúc Việt Nam” chép: Tổ tiên họ Khúc ở Khúc Ốc nước Tấn thời Chiến Quốc, đã có nhiều kinh nghiệm trị quốc an dân. Từ ngày sang Việt Nam, tất nhiên con cháu họ Khúc còn mang sang xứ sở mới cả một kho kinh nghiệm đấu tranh giữ nước và dựng nước vào thời kỳ tam hùng của nước Tấn xưa. Sách còn chép về nhân vật được coi là thủy tổ họ Khúc của Việt Nam là Kinh lược sứ Khúc Hoàn. Tuy nhiên, hai cuốn “An Nam chí lược” và “An Nam chí nguyên” thì các mệnh quan phương Bắc sang đô hộ Giao Châu không có nhân vật nào tên là Khúc Hoàn giữ chức Kinh lược sứ Giao Châu vào năm 756. Do đó, không có bất cứ mối liên hệ nào cụ thể cho thấy họ Khúc có xuất xứ Trung Hoa, dù cho vùng đất Hồng Châu của họ Khúc nằm ở phía đông của đồng bằng Bắc bộ, vốn thuộc vùng đất do quan đô hộ là Vũ Hồn mở mang. Gia tộc họ Khúc còn liên quan đến một loạt các địa danh có chữ Khúc ở đầu tại khu vực phía đông đồng bằng Bắc Bộ và Hà Nội, cho thấy sự ảnh hưởng của họ Khúc.

Cùng trong nghiên cứu của mình, ông Khúc Minh Tuấn đề cập đến tư liệu của Thiền sư Lê Mạnh Thát. Ông Lê Mạnh Thát đề cập đến nhân vật Khúc Lãm, một người có ước nguyện san lấp các nơi trấn yểm. Nhân vật Khúc Lãm xuất hiện trong Thiền Uyển Tập Anh trong đoạn đối thoại với trưởng lão La Qúy ủy thác gỡ trấn yểm. Tuy nhiên chưa có mối liên hệ rõ ràng giữa Khúc Lãm với Khúc Thừa Dụ.

Truyền kỳ dân gian về thánh mẫu Khúc thị Ngọc

“Khúc Thị Ngọc (còn gọi là công chúa Quỳnh Hoa), em gái Trung chúa Khúc Hạo. Tương truyền, thuở nhỏ Khúc Thị Ngọc thông minh, ý chí mạnh mẽ hơn người, sớm bộc lộ biệt tài về đầu óc tổ chức. Tuy con nhà gia thế nhưng nàng ham bơi lội, đua thuyền. Trong thời gian cùng sống với cha tại phủ Tống Bình, công chúa Quỳnh Hoa được tham gia bàn kế an dân giữ nước. Từ khi Tiên chúa Khúc Thừa Dụ qua đời, Khúc Hạo thay cha trị vì đất nước, nàng đã xin người anh cho mình được để tâm tìm mưu kế phát triển dân sinh.

Trong dân gian có truyền thuyết rằng: Khi ở phủ Tống Bình, một hôm bà đi thuyền dạo chơi Tây Hồ, gặp mưa to, bèn vào chùa Trấn Quốc thỉnh chuông niệm Phật. Tiếng chuông ngân lên thì từ Hồ Tây có con trâu vàng hiện lên năn nỉ xin theo hầu. Bà Khúc Thị Ngọc, xuống thuyền theo dòng Kim ngưu, con trâu vàng rẽ nước băng lên phía trước dẫn lối. Kỳ lạ thay, thuyền bà lướt tới đâu, thì lạch nước thành sông, bãi lầy thành đồng ruộng. Các làng xóm, chợ búa mọc lên theo. Đến khi gặp một làn nước trong mát, bà xuống tắm. Xong rồi bà đi lên gò cao, trút bỏ xiêm y rồi biến. Dải yếm đào bà để lại, đã hóa thành một dải ruộng dài hàng cây số từ thôn Vĩnh Mộ qua thôn Cổ Chất đến thôn Phượng Cù ngày nay.

Đền thờ bà Chúa dựng trên gò đất cao tại đầu làng Vĩnh Mộ, gần sông Nhuệ, thuộc xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (cũ). Ban đầu, đền chỉ là túp lều tranh, dựng sơ sài, xung quanh là đồng chiêm trũng. Đến khi vua Lý Thái Tổ lên ngôi, dời đô từ Hoa Lư về La Thành, đổi tên là Thăng Long, vua bèn ban sắc chỉ cho dân chúng trong vùng tôn tạo xây đình chùa. Nhân đó, ba làng Vĩnh Mộ, Cổ Chất và Phương Cù đã xây ngôi miếu lộ thiên hình ngai để thờ Bà. Sang triều Lê, miếu Thánh Mẫu lần đầu tiên được tôn tạo. Nhưng phải đến nhà hậu Lê mới xét công lao và ban sắc phong thần cho Bà, nhưng sắc chỉ đã thất truyền. Trong đền hiện chỉ còn tấm biển sơn son thiếp vàng đề bốn chữ “Lịch triều phong tặng” là dấu tích của lần phong tặng ấy. Nhưng thật may mắn là đền thờ Thánh Mẫu-công chúa Quỳnh Hoa Khúc Thị Ngọc-còn lưu giữ được ba đạo sắc phong của các vua triều Nguyễn. Trong vòng 35 năm, ba vị vua nhà Nguyễn đều sắc phong cho Công chúa Khúc Thị Ngọc là bậc thần và bậc thần tôn kính, càng về sau càng trân trọng.

Trích Quân đội nhân dân Quỳnh Hoa Thánh Mẫu là con gái của Khúc Thừa Dụ (qdnd.vn)

Ảnh chụp khi bàn về vai trò của họ Khúc trong lịch sử.

Từ chính quyền họ Dương đến Ngô Quyền

Tư liệu từ Đại Việt sử ký toàn thư và các sử liệu khác về giai đoạn này cũng rất ít và thống nhất:

Tân Mão (931), Mùa đông, tháng 12, Dương Đình Nghệ “nuôi con nuôi 3000 người, mưu khôi phục. Lý Tiến biết, chạy báo với vua Hán. Năm ấy Đình Nghệ đem quân vây Tiến. Vua Hán sai thừa chỉ Trần Bảo đem quân đến cứu, quân chưa đến, thành đã mất, Tiến trốn về nước. Bảo đến vây thành. Đình Nghệ đem quân ra đánh, Bảo thua chết, bấy giờ Đình Nghệ tự xưng là tiết độ sứ trông coi việc châu.” Sau Kiều Công Tiễn làm phản, giết Dương Đình Nghệ, dẫn đến việc Ngô Quyền dẫn quân tiêu diệt. Mô hình của Dương Đình Nghệ xây dựng quyền lực dựa trên quân đội mạnh, khác với cách xây dựng quyền lực của nhà họ Khúc.

Từ tư liệu của Keith Taylor, ta có thể thấy rằng Dương Đình Nghệ xuất xứ từ Ái Châu không được các gia tộc học phiệt ở Bắc bộ. Ông cũng cho rằng việc Kiều Công Tiễn ám sát Dương Đình Nghệ là hành động của phe thân Trung Hoa muốn lấy lại quyền kiểm soát liên minh hào trưởng tại Giao Châu. Ngô Quyền – đại diện của phe Ái Châu đã giành lại quyền kiểm soát, và Kiều Công Tiễn cầu viện Nam Hán. Trong triều đình của Ngô Quyền, họ Dương vẫn tiếp tục duy trì quyền lực.

Sự kiện còn đề cập đến nhiều vấn đề khác như lưu trữ và chia sẻ tư liệu Hán Nôm tại Việt Nam, và xa hơn thế là nan đề nên coi tư liệu Hán Nôm là di sản hay tài sản.

Các bạn có thể liên hệ với chúng mình để nhận file ghi âm sự kiện. 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Công ty TNHH Truyền thông và Giáo dục LYCEUM
Mã số doanh nghiệp: 0109952504, ngày cấp 4/4/2022, quận Đống Đa, Hà Nội.
Địa chỉ: số 81B ngõ 592 Trường Chinh, phường Khương Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội
Phone: +84964491749
Email: admin@thebookhunter.org

bct
There are no products
call
zalo
messenger